Top page

Top 10 siêu phi cơ chiến đấu hiện đại nhất thế giới hiện nay

Trong lịch sử con người đã sử dụng máy bay chiến đấu đầu tiên vào năm 1794 trong trận chiến Fleurus khi quân Pháp dùng một khinh khí cầu quan sát để bí mật theo dõi binh lính Áo di chuyển trên mặt trận. Sau 3 thế kỉ, không còn ai dùng cỗ máy lạc hậu đó cho mục đích quân sự trên không nữa. Ngành công nghiệp quốc phòng các nước đã cho ra đời các “chiến cơ” hiện đại nhất với những tính năng vượt trội, hỏa lực mạnh, khả năng cơ động cao, tác chiến trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết để phục vụ cho không quân của nước mình và thế giới.

Đây là 10 loại máy bay chiến đấu hiện đại nhất trên thế giới hiện nay:

1. Máy bay chiến đấu Sukhoi T-50 của Nga :

Sukhoi T-50 là nguyên mẫu của Sukhoi PAK FA T-50, và là sản phẩm phát triển chung giữa Nga và Ấn Độ. Chiến đấu cơ có tốc độ siêu thanh này ra đời nhằm bắt kịp các công nghệ mới của Mỹ. Sukhoi PAK FA T–50 được phát triển đầy đủ để thay thế những chiếc MiG-29 Fulcrum và Su-27 Flanker trong kho vũ khí của Nga. Loại chiến cơ này tích hợp kỹ thuật từ cả Su-47 và MiG 1.44 và sẽ chính thức được đưa vào sử dụng năm 2015.

Sukhoi PAK FA T-50

Sukhoi T-50 là một chiếc máy bay tàng hình được chế tạo để thực hiện nhiều nhiệm vụ trên không, trên bộ và cả trên biển.

Hệ thống vũ khí: Sukhoi T-50 sử dụng các loại vũ khí mới nhất của quân đội Nga như: tên lửa không đối không tầm ngắn R-73, tên lửa không đối không tầm trung R-77 (tầm bắn lên tới 90km), tên lửa không đối đất Kh-31 hoặc không đối hạm Kh-35 Uran, Kh-41 Moskit. Ngoài ra, siêu chiến cơ này còn được trang bị các loại bom dẫn đường chính xác cao KAB-500KR. Vũ khí phụ dành cho các cuộc không chiến tầm gần là hai khẩu pháo 30mm.

Tất cả vũ khí của Sukhoi T-50 được treo bên trong khoang máy bay, tương tự với F-22 của Mỹ. Cách bố trí này sẽ giảm khả năng bị phát hiện bởi hệ thống radar phòng không của đối phương.

Radar cực mạnh: Sukhoi T-50 được trang bị loại radar N050 BLRS AESA/PESA (AESA–mạng điện tử quét chủ động, PESA–mạng điện tử quét bị động). Loại radar này hoạt động trên băng tần X (8-12GHz). Trọng lượng của radar khoảng 65-80kg, đường kính 0,7m.

N050 cho phép quét đồng thời 32 mục tiêu cùng lúc, và điều khiển hỏa lực tiêu diệt đồng thời 8 mục tiêu. Tầm hoạt động của radar khoảng 400km, trong khi đó loại radar trang bị trên F-22 là AN/APG – 77 chỉ là 250km.

Động cơ Saturn AL-41F mạnh mẽ: Sukhoi T-50 sử dụng động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy Saturn AL-41F.

Theo Ông Igor Korotchenko, Giám đốc Trung tâm Phân tích vũ khí toàn cầu của Nga đã phát biểu trên trang Defencenet.gr rằng: Việt Nam sẽ có khoảng từ 12 đến 24 chiếc Sukhoi T -50 vào năm 2030 – 2035.

2. Máy bay chiến đấu F-22 Raptor: Chim ăn thịt của Mỹ

F-22 là máy bay tiêm kích thế hệ thứ 5 sử dụng kỹ thuật tàng hình thế hệ 4 của Mỹ. Ban đầu nó được thiết kế để trở thành một máy bay chiến đấu giành ưu thế trên không trước Không quân Xô viết, nhưng cũng được trang bị cho các nhiệm vụ tấn công mặt đất, chiến tranh điện tử và trinh sát tín hiệu.

F-22 đang bay
Nguyên mẫu loại máy bay này được định danh YF-22, sau đó là F/A-2. Khi chính thức phục vụ Không lực Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2005 loại chiến cơ này mới có tên chính thức là F-22A sau khi hoàn thành các bài kiểm tra về khả năng chiến đấu.

Công nghệ chế tạo máy bay F-22: Vật liệu chế tạo F-22 gồm: 39% ti tan, 24% composite, 16% nhôm và 1% chất dẻo nhiệt theo khối lượng. Titan được sử dụng với khối lượng lớn để chịu lực và chịu nhiệt cho các chi tiết trọng yếu. Sợi hợp tử các bon được sử dụng để bao bọc khung thân, cửa hút khí, cánh máy bay giúp gia tăng khả năng tàng hình.

Buồng lái F-22 được thiết kế hiện đại với những màn hình LCD 6 màu, điều khiển bằng hệ thống điện tử Kaiser, có khả năng hiển thị các mục tiêu trên không cũng như trên mặt đất. Ngoài ra, các mối nguy hiểm cùng với dữ liệu tìm kiếm mục tiêu hiển thị trên hai màn hình LCD khác.

Hệ thống hiển thị hình ảnh trên mũ bay phi công (HUD) sẽ cung cấp các thông số như tình trạng mục tiêu, tình trạng vũ khí và giúp phi công ngắm bắn. Các thông số hiển thị trên HUD sẽ được một camera ghi lại để phân tích sau trận chiến.

Hệ thống vũ khí: F-22 được trang bị một khẩu pháo 6 nòng M61A2 phía bên cánh phải, ngay phía trên cửa lấy khí. Tuy nhiên, 480 viên đạn dự trữ chỉ giúp vũ khí này có tác dụng trong một thời gian ngắn vì khẩu pháo cỡ nòng 20 mm này có thể bắn với tốc độ 100 phát đạn mỗi phút.

Khoang vũ khí của F-22
F-22 có ba khoang vũ khí có thể đóng mở được nằm trong thân: một khoang lớn phía dưới thân và hai khoang nhỏ phía bên cạnh cửa hút gió. Ngoài ra nó cũng có bốn mấu cứng ở cánh, thường chỉ để gắn thùng dầu phụ trong những phi vụ bay tuần tiễu, tuy nhiên cũng có thể gắn tên lửa, điều này sẽ làm giảm khả năng tàng hình rất nhiều.

Vũ khí mang theo của F-22 có thể thay đổi tùy theo nhiệm vụ. Để không chiến, F-22 sẽ mang theo 6 tên lửa AIM-120C AMRAAM tầm xa (tầm bắn 90 km) và hai tên lửa AIM-9 Sidewinder ở hai khoang cạnh thân.

Để tấn công mặt đất, bốn tên lửa AIM-120C ở khoảng giữa thân sẽ được thay bằng hai bom thông minh GBU-32 JDAM loại 204 kg ( hoặc bỏ cả 6 tên lửa AMRAAM để thay bằng hai bom GBU-30 JDAM loại 454 kg), Trong nhiệm vụ tuần tiễu, F-22 chỉ mang theo bốn thùng dầu phụ và 8 tên lửa tầm ngắn AIM-9.

F-22 được lắp đặt Radar AN/APG-77. Mỗi radar này chứa 2.000 thiết bị truyền dẫn tín hiệu, cho phép phát sóng với tần số thay đổi trên một dải băng thông rộng, giúp F-22 tránh được việc bị phát hiện bởi những dàn radar thụ động của đối phương.

Thiết bị thông tin liên lạc và định vị trên F-22 có tên TRW CNI sẽ đảm bảo liên lạc trong suốt hành trình, chia sẻ mục tiêu trong những nhiệm vụ phối hợp và nhận biết bạn – thù. Ngoài ra, F-22 còn trang bị thiết bị dẫn đường bằng laser LTN-100G và hệ thống GPS cùng cảm biến hạ cánh.

Hệ thống động cơ: F-22 được trang bị hai động cơ Pratt & Whitney F-119-100. F-119 là loại động cơ tua bin khí cực mạnh, có thể tạo ra lực đẩy lên tới 156kN. Tuy nhiên, động cơ F-119 chỉ là loại động cơ có khả năng chỉnh hướng phụt 2D, nghĩa là miệng xả của F-119 chỉ có thể chỉnh hướng theo hướng trên dưới, lạc hậu hơn các loại động cơ chỉnh hướng phụt đa hướng của máy bay Mig-29OVT và Su-35BM của Nga, do đó khả năng thao diễn của F-22 vẫn thua kém những loại máy bay này.

Dù được cho là loại máy bay chiến đấu đắt nhất trên thế giới, F-22 vẫn chưa phải là máy bay hoàn hảo nhất trong giới quân sự hiện nay. Những sự cố kĩ thuật như vụ phi công F-22 bị mắc kẹt trong buồng lái ngày 10/4/2006 khiến các nhân viên cứu hộ phải dùng đến cưa máy để giải thoát. Sau đó là hai vụ tai nạn xảy ra vào tháng 12/2004 tại Nevada và ngày 25/3/2009 khiến không quân Mỹ mất hai chiếc máy bay hiện đại bậc nhất thế giới và một phi công thiệt mạng do lỗi hệ thống cung cấp ô–xi cho phi công.

Tuy nhiên, trước khi máy bay Sukhoi T-50 của Nga ra đời, F-22 vẫn là chiếc máy bay thế hệ thứ năm duy nhất trên toàn cầu, biểu tượng đáng để các quốc gia muốn đối đầu với Mỹ cần cân nhắc. Gần đây, khi vấn đề hạt nhân tại bán đảo Triều Tiên trở nên căng thẳng, Mỹ đã gia tăng sự hiện diện quân sự của mình tại khu vực Đông Bắc Á, trong đó có việc điều 12 “siêu” máy bay F-22 tới căn cứ không quân Kadena trên đảo Okinawa, phía Nam Nhật Bản.

3. Chiến cơ F-35

F-35 Lightning II được phát triển từ máy bay X-35 theo dự án máy bay tiêm kích tấn công kết hợp (JSF), là loại máy bay tiêm kích một chỗ ngồi, có khả năng tàng hình, đa năng, có thể thực hiện các nhiệm vụ như: yểm trợ trên không, ném bom chiến thuật, và chiến đấu không đối không. F-35 được phát triển thành 3 phiên bản:

- F-35A là kiểu cất cánh và hạ cánh thông thường (CTOL – conventional takeoff and landing).
- F-35B là phiên bản máy bay cất cánh đường bay ngắn và hạ cánh (STOVL – short take-off vertical landing).
- F-35C dành cho hải quân có cánh lớn hơn và gấp được.

F-35
F-35 trông giống F-22 Raptor nhưng nhỏ hơn, có một động cơ và dĩ nhiên, vay mượn một số yếu tố thiết kế của nó. Ưu điểm của loại chiến cơ này là kỹ thuật tàng hình làm cho chiếc máy bay khó bị phát hiện bởi radar tầm ngắn. Ngoài ra F-35 có một vài điểm cải tiến so với thế hệ máy bay chiến đấu hiện tại là:

- Kỹ thuật tàng hình bền bỉ và bảo trì ít tốn kém hơn.
- Hệ thống radar và cảm biến tích hợp phối hợp thông tin trên máy bay và từ mặt đất nhằm tăng cường khả năng nhận biết tình huống của phi công, nhận biết địch thủ và sử dụng vũ khí, cũng như chuyển tiếp thông tin nhanh chóng đến các nút chỉ huy và điều khiển khác.
- Mạng lưới dữ liệu tốc độ cao bao gồm IEEE-1394b và Fibre Channel
- Chi phí duy trì vòng đời thấp.

F-35 là máy bay đầu tiên sử dụng kỹ thuật hiển thị thông tin trước mặt thay thế cho kỹ thuật hiển thị thông tin lên mũ bay.

Các cảm biến: Cảm biến chính của F-35 là radar kiểu tương phản pha chủ động AN/APG-81. Nó được bổ xung bởi hệ thống EOTS (Nhận biết mục tiêu quang-điện tử) gắn dưới mũi máy bay. Các cảm biến quang-điện tử khác được phân bố trên thân máy bay là một phần của hệ thống AN/AAS-37 hoạt động như hệ thống cảnh báo tên lửa, dẫn đường và bay đêm.

Tỉ số lực đẩy/khối lượng: Kiểu cải biến F-35B có nguy cơ giảm các tính năng cơ động vì các trang bị nâng thẳng làm nó nặng hơn quá mức – đến 1 tấn (2.200 lbs) hay 8%. Để bù lại, lực đẩy động cơ của máy bay tăng, giảm trọng lượng hơn 1 tấn do vỏ bọc máy bay mỏng hơn, thu nhỏ ngăn chứa vũ khí trong thân máy bay và cánh đứng, dẫn lại một phần lực đẩy sang ống thoát chính; và thiết kế lại kết nối cánh-thân, một phần hệ thống điện, và phần máy bay ngay sau khoang lái.

Giải pháp chứa vũ khí bên trong thân nhằm tàng hình và tối ưu khí động học, nhưng làm cho quá trình kiểm tra tính tương thích vũ khí trở nên khó khăn hơn. F-35 dễ bị tổn thương trong hỗ trợ cảnh báo không đối không, đặc biệt là trong quá trình tiếp nhiên liệu.

4. SU-35

Su-35 Flanker-E là máy bay tiêm kích thế hệ 4++ hiện đại, được áp dụng một số công nghệ của tiêm kích thế hệ thứ 5. Máy bay được trang bị 2 động cơ đẩy vector 117S, có khả năng cơ động cao.

Su-35 đang nhào lộn
Hơn nữa hệ thống radar quét mảng pha điện tử Irbis-E cung cấp khả năng không chiến với nhiều mục tiêu cùng lúc, cung cấp kênh dẫn hướng cho 8 tên lửa tấn công mục tiêu cùng lúc, radar phía trước được hỗ trợ bởi một radar phía sau đặt trong khoảng trống giữa hai động cơ.

Máy bay có tốc độ Mach-2,25 (2.390km/h), trần bay 18km, tầm hoạt động 3.600km, lên tới 4.500km với thùng nhiên liệu gắn ngoài. Hơn nữa 12 điểm treo dưới cánh cho phép may bay mang 8.000kg đạn và tên lửa.

Giữa thập niên 2000, Su-35 được hiện đại hóa thành một máy bay tiêm kích thế hệ 4.5 hiện đại, tận dụng các công nghệ hiện tại đã có. Chiếc Su-35 hiện đại hóa đầu tiên là “Su-35BM” (gọi là Su-35 mới). Su-35 mới bỏ đi cánh mũi và cánh tà hãm tốc độ từ thiết kế ban đầu của Su-35. Thiết kế mới có một khung máy bay gia cố nhằm tăng tuổi thọ và có một radar nhỏ hơn ở phía trước.

Su-35 hiện đại hóa có phần mũi mới, trong đó chứa một radar quét mảng pha điện tử bị động cải tiến và máy bay cũng được nâng cấp hệ thống điện tử hàng không và các hệ thống điện khác, bao gồm hệ thống lái số fly-by-wire và radar quét sau để điều khiển tên lửa SARH.

Hệ thống đẩy véc tơ 2 chiều không đối xứng đã được thử nghiệm trên Su-35 và làm cơ sở để phát triển Su-37. Động cơ đẩy véc tơ 2D mới có tên gọi 117S, đã được phát triển và thay thế các động cơ AL-35 hay AL-31F hiện có.

5. Máy bay chiến đấu F-18

F/A-18 Hornet là một loại máy bay phản lực chiến đấu hiện đại đa năng được thiết kế để sử dụng tấn công các mục tiêu cả trên không trung và mặt đất.

Nhiệm vụ chính của nó là hộ tống máy bay ném bom, bảo vệ hạm đội, tiêu diệt lực lượng phòng không của đối phương, ném bom chiến thuật, yểm trợ mặt đất và trinh sát. Nó có tính linh hoạt và khả năng tin cậy cao, mặc dù có những hạn chế về tầm bay và tải trọng chiến đấu so với các đối thủ cùng thời kì.

F-18
F/A-18E/F Super Hornet là một phiên bản cải tiến nâng cao từ F/A-18, được thiết kế để bổ xung chức năng cho Hornet trong Hải quân Hoa Kỳ.

F/A-18 là máy bay chiến thuật đa năng có hai động cơ. Nó có khả năng thao diễn tuyệt vời do có chỉ số lực đẩy/khối lượng tốt, hệ thống điều khiển bay bằng dây dẫn kỹ thuật số, và kéo dài mép trước cánh của máy bay (LEX).

Hệ thống LEX giúp kiểm soát được máy bay ở góc tấn công lớn. Điều này có được là do cánh có thể tạo ra lực nâng lớn gấp nhiều lần trọng lượng máy bay cho dù góc tấn công lớn, cho phép Hornet đổi hướng ở góc hẹp trong một dãi tốc độ rất thay đổi.

6. Máy bay Rafael của Pháp

Rafale là loại máy bay chiến đấu đa chức năng cánh tam giác với hai động cơ vô cùng linh hoạt của Pháp, do Công ty Hàng không Dassault thiết kế và sản xuất. Nhìn chiếc máy bay này, chúng ta có thể hình dung ra vẻ đẹp tinh tế của đất nước và con người Pháp.

Rafale đang biểu diễn
Hiện Rafale đang được chế tạo để sử dụng cho cả các căn cứ trên mặt đất của Không quân Pháp và trên tàu sân bay của Hải quân Pháp. Nó cũng đã được tiếp thị xuất khẩu, nhưng vẫn chưa kí kết được hợp đồng nào. Tuy vậy, có rất nhiều nước bày tỏ sự quan tâm tới loại máy bay này.

Cho đến nay, Rafael có một số biến thể sau:
- Rafale A: Phiên bản máy bay trình diễn kỹ thuật cất cánh lần đầu năm – 1986, nhưng hiện đã ngừng hoạt động.
- Rafale B: Phiên bản hai chỗ ngồi
- Rafale C: Phiên bản một cho ngồi
- Rafale D: Phiên bản bán tàng hình được chế tạo đầu những năm 1990.
- Rafale M: Đây là phiên bản hoạt động trên tàu sân bay, đã đi vào hoạt động năm 2002. Rafale M nặng hơn Rafale C 500 kg. Nhìn bề ngoài, nó giống Rafale C, nhưng có những nhiều điểm khác biệt.
- Rafale N: Trước kia được gọi là Rafale BM, được dự định là một phiên bản hai chỗ ngồi.

Vũ khí của máy bay chiến đấu Rafale
Hệ thống chiến đấu: Lần đầu tiên trong lịch sử hàng không, Rafale mang một hệ thống tồn tại điện tử tích hợp được đặt tên SPECTRA với tính năng tàng hình dựa trên kỹ thuật phần mềm ảo. Nhưng cảm biến quan trọng nhất là radar quét điện tử thụ động đa phương thức Thales RBE2.

Thales đạt tới một mức độ nhận thức tình huống cao nhất từ trước tới nay thông qua việc thám sát và theo dõi sớm nhiều mục tiêu trên không cho cận chiến và can thiệp tầm xa, các bản đồ ba chiều thời gian thực cho việc theo dõi mặt đất, và các bản đồ thời gian thực độ phân giải cao mặt đất cho hoa tiêu và ngắm mục tiêu.

Tuy nhiên, trong những trường hợp cần sự điều khiển, Rafale có thể sử dụng nhiều hệ thống cảm biến thụ động:
- Hệ thống cảm biến điện quang học (electro optical system) phía trước (front-sector) hay Optroniques Secteur Frontal (OSF), do Thales phát triển, hoàn toàn được tích hợp bên trong máy bay và có thể hoạt động cả ở tầm sóng nhìn thấy được và sóng hồng ngoại.

Hệ thống chiến tranh điện tử SPECTRA, được hợp tác phát triển giữa Thales và EADS France, khiến chiếc máy bay có khả năng tồn tại cao nhất trước những mối đe dọa từ trên không và dưới mặt đất. Các đường nối dữ liệu thời gian thực cho phép máy bay không chỉ liên lạc với các máy bay khác, mà còn có thể liên lạc với các trung tâm chỉ huy và điều khiển cố định, di động dưới mặt đất.

Khi nhiệm vụ đòi hỏi, Rafale cũng có thể dùng thiết bị chỉ định điện quang học/laser DAMOCLES khiến nó có đủ khả năng LGB đầy đủ trong cả điều kiện ban ngày lẫn ban đêm, dù Không quân hiện có kế hoạch sử dụng các vũ khí xa (stand off) cho Rafale và vai trò LGB cho những chiếc Mirage 2000.

- Các hệ thống trung tâm của Rafale sử dụng một thiết bị Điện tử Modul Tích hợp (Integrated Modular Avionics – IMA), được gọi là Thiết bị Xử lý Dữ liệu Modul (Modular Data Processing Unit – MDPU). Cơ cấu này đảm nhận mọi chức năng chủ chốt của máy bay như một Hệ thống kiểm soát bay, Tổng hợp Dữ liệu, Kiểm soát bắn, Giao tiếp phi công-máy bay…

Rafale M là chiếc máy bay cánh cứng duy nhất hoạt động trong Không quân, Hải quân, và các kế hoạch nhằm nâng cấp tất cả máy bay lên tiêu chuẩn “F3″, với radar 3 chiều theo dõi mặt đất và khả năng mang vũ khí hạt nhân sẽ diễn ra vào đầu thập kỷ 2010.

7. Máy bay chiến đấu Gripen của Thụy Điển

AS-39 Gripen được thiết kế là một chiếc máy bay đa nhiệm hạng nhẹ một động cơ Volvo RM-12, với chiều dài 12 m và sải cánh 8 m, nhỏ hơn chiếc F-16 (dài 14,8 m, sải cánh 9,8 m). Nhẹ hơn F-16 gần hai tấn nên Gripen JAS-39 chỉ có thể mang tối đa 6 tấn nhiên liệu và vũ khí, trong khi, F-16 có thể mang tới 11 tấn.

Tên lửa RBS-15
Hệ thống radar: Gripen được trang bị radar tầm xa PS-05 do Ericson sản xuất, có khả năng phát hiện, định vị, nhận dạng và tự động theo dõi nhiều mục tiêu cả trên không, trên biển hay mặt đất trong mọi điều kiện thời tiết. Ngoài ra loại radar này cũng có thể dẫn đường cùng lúc cho bốn tên lửa không đối không tầm xa loại hiện đại nhất đang được trang bị cho NATO như AIM-120 AMRAAM, MBDA MICA tấn công bốn mục tiêu khác nhau. Hơn nữa, hệ thống theo dõi hồng ngoại FLIR hay Saab IRortis IRST cũng cung cấp cho Gripen khả năng không chiến tầm gần mạnh mẽ. Hệ thống phân biệt bạn thù (IFF – Indentify Friend or Foe) TSC-2000 do Thales (Pháp) sản xuất khiến Gripen càng hiệu quả hơn trong những nhiệm vụ hiệp đồng tác chiến.

Rdar PS-05
Hệ thống vũ khí: của Gripen bao gồm một khẩu pháo Mauser 27 mm với 120 viên đạn được gắn trong thân máy bay có khả năng ngắm bắn tự động bằng radar. Ngoài ra, 7 mấu cứng trên cánh và thân có thể gắn các loại tên lửa, bom, thùng dầu phụ hay thiết bị đối kháng điện tử. Gripen hoàn toàn tương thích với các loại tên lửa đối không của phương Tây như AIM-120B AMRAAM, AIM-9L Sidewinder của Mỹ; MBDA MICA của Pháp hay RB-74 do Thụy Điển tự sản xuất.

Vũ khí của Gripen
Trong các nhiệm vụ tấn công trên mặt đất và trên biển, Gripen có thể sử dụng loại tên lửa chống hạm “nội địa” Saab RBS-15F với tầm bắn lên tới 250 km (tương đương với phiên bản tên lửa Harpoon hiện đại nhất của Mỹ và còn vượt hơn một chút so với tên lửa Kh-41 Moskit của Nga) hay tên lửa đối đất Taurus KEPD – sản phẩm hợp tác của Thụy Điển và Pháp có tầm bắn lên tới 350 km.

Tên lửa RBS-15
Giống như các dòng máy bay khác của châu Âu như Eurofighter Typhoon, buồng lái của Gripen được bố trí hết sức thân thiện với phi công khi trang bị các màn hình LCD cỡ lớn hiển thị rõ ràng các thông số kỹ thuật cùng một màn hình gắn trên mũ bay (HUD).

Tên lửa đất đối không Taurus KEPD trên Gripen
Điểm mạnh nhất của JAS-39 Gripen là giá thành bảo trì rất thấp so với các máy bay cùng loại của Mỹ hay Nga. Điều này cho phép máy bay có độ tin cậy cao trong các cuộc chiến khi điều kiện bảo dưỡng khó khăn hơn rất nhiều so với ngày thường. Thích nghi với hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Không những thế, Gripen có thể cất cánh và hạ cánh trên những đường băng gồ ghề chỉ dài 800 m và rộng 9 m, rất thích hợp cho các tình huống khẩn cấp khi các sân bay bị đánh phá nặng nề.

Gripen có thể cất và hạ cánh trên đường băng cực ngắn

Vì những khả năng ưu việt của mình nên mặc dù rất đắt tới 55 triệu USD, Gripen vẫn nhận được rất nhiều hợp đồng cung cấp. Cụ thể, khách hàng chính là không quân Thụy Điển đã ký hợp đồng mua 204 chiếc Gripen, trong đó có 28 chiếc loại hai chỗ ngồi. Khách hàng trong khối NATO là Hungari và Séc cũng đã mua mỗi nước 14 chiếc Gripen để thay thế loại Mig-21 cũ.

8. Chiến cơ Eurofighter Typhoon: Cơn cuồng phong của Anh

Eurofighter Typhoon (Chiến binh Châu Âu – Cuồng phong) là một máy bay chiến đấu tấn công cánh tam giác, cánh mũi đa nhiệm vụ, được thiết kế và chế tạo bởi liên doanh Eurofighter GmbH thành lập năm 1986 giữa các nhà sản xuất hàng không Châu Âu. Chiếc máy bay này đã chính thức đi vào hoạt động trong Không quân Ý và Không quân Tây Ban Nha. Áo đã mua 18 chiếc Typhoon, trong khi Ả Rập Saudi đã ký kết một hợp đồng ngày 18 tháng 8 năm 2006 mua 72 chiếc do BAE Systems sản xuất. Loại chiến cơ này hiện nay cũng được Oman đặt hàng để trang bị cho không lực của nước này.

Eurofighter Typhoon
Tuy Typhoon không có kỹ thuật tàng hình mọi khía cạnh như F-22A, nhưng thiết kế của nó thực sự có tích hợp một số tính năng hạn chế khả năng bị thám sát. Chức năng thám sát và theo dõi mục tiêu hồng ngoại bị động (không đối không và không đối đất) do PIRATE (Thiết bị Thám sát Máy bay Hồng ngoại Bị động) đảm nhiệm, chúng đồng thời hỗ trợ hoa tiêu và hạ cánh. Bộ chỉ điểm mục tiêu laser LITENING.

Typhoon có khả năng duy trì bay siêu tốc mà không cần sử dụng các buồng đốt lần hai
Năm 2002 MBDA Meteor đã được lựa chọn làm loại tên lửa không đối không tầm xa trang bị cho Eurofighter Typhoon. Vì những chậm trễ trong quá trình phát triển Meteor, Typhoon sẽ được tạm thời trang bị các tên lửa Raytheon AMRAAM. Thời gian dự kiến đưa vào sử dụng hiện nay của Meteor là tháng 8 năm 2012.

Tên lửa Raytheon AMRAAM
Động cơ của Typhoon gồm động cơ Eurojet EJ200 tuốc bin cánh quạt có tăng lực; lực đẩy khô: 60 kN (13.500 lbf); lực đẩy khi đốt nhiên liệu lần hai: 90 kN (20.250 lbf). Tốc độ tối đa: Mach 2,0+ (2.390 km/h; 1.480mph) ở độ cao lớn; Mach 1,2 (1.470 km/h; 915 mph) ở mực nước biển; Mach 1,3+ ở độ cao với trang bị vũ khí không đối không tiêu chuẩn. Trần bay: 19.812 m (65.000 ft). Vận tốc lên cao: 315 m/s (50.000 ft/min). Tầm hoạt động: 1.390 km (864 mi).

Các vũ khí của chiến cơ Eurofighter Typhoon
Hệ thống vũ khí: Eurofighter Typhoon được trang bị một pháo Mauser BK-27 nòng 27 mm, các tên lửa không đối không: AIM-9 Sidewinder, AIM-132 ASRAAM, AIM-120 AMRAAM, IRIS-T và MBDA Meteor trong tương lai. Ngoài ra, loại máy bay này còn được trang bị các loại tên lửa không đối đất như AGM-84 Harpoon, AGM-88 HARM, ALARM, Storm Shadow (còn gọi là “Scalp EG”), Brimstone, Taurus, Penguin và AGM Armiger trong tương lai. Typhoon luôn được dự trù để trở thành máy bay chiến đấu chiến thuật với khả năng tấn công không đối đất mạnh với các loại bom Paveway 2, Paveway 3, Enhanced Paveway, JDAM

9. Máy bay chiến đấu MiG-35 của Nga

Máy bay chiến đấu hiện đại MiG-35 được phát triển dựa trên máy bay MiG-29. MiG-35 mang tên lửa không đối không và cả tên lửa không đối đất, nó trang bị một số công nghệ dành cho các máy bay chiến đấu thế hệ 5, hệ thống điện tử hàng không điều khiển máy bay hiện đại cùng radar quét mạng pha điện tử Zhuk-MAE với anten mạng pha chủ động có thể nhận dạng đến 30 mục tiêu và cho phép tấn công đồng thời 6 mục tiêu trong số đó, tầm phát hiện của radar này lên đến 200km.

Chiến cơ đa năng MiG-35
Ngoài động cơ RD-33 OVT với các ống phụt điều khiển hướng bay cung cấp khả năng thao diễn cao cấp và tăng cường hiệu suất bay của máy bay trong không chiến phạm vi hẹp và hệ thống Fly-by-wire, MiG-35 khác với MiG-29 ở thiết bị avionics hiện đại hơn, cho phép tác chiến hiệu quả chống cả mục tiêu trên không và mặt đất.

Màn tiếp nhiên liệu của MiG-35
Vũ khí đa kênh: MiG-35 sử dụng hầu như tất cả các loại vũ khí có điều khiển và không điều khiển lớp không-đối-không và không-đối-diện do Nga phát triển cho máy bay chiến thuật. Hiện nay, MiG-35 được trang bị 1 pháo 30 mm GSh-30-1 cơ số đạn 150 viên; 7 tấn vũ khí treo trên 9 giá treo ngoài gồm các tên lửa không-đối-không tầm trung R-27, RVV-AE, tên lửa tầm ngắn R-73…, tên lửa chống hạm Kh-31A, Kh-35, hệ thống chống radar Kh-31P; tên lửa không-đối-diện như Kh-25ML, Kh-29T, Kh-29L. Ngoài ra, chiến cơ này còn sử dụng bom có điều khiến bằng laser, truyền hình; bom không điều khiển…

10. Máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc

Ban đầu được thiết kế với vai trò trọng yếu là chống máy bay chiến đấu, sau này nó được sửa đổi thành máy bay đa năng có thể đảm đương cả hai nhiệm vụ không chiến (tiêm kích) và tấn công mặt đất (cường kích). J-10 sử dụng được cho các phi vụ ở mọi thời tiết, đêm và ngày.


J-10 là loại máy bay một chỗ ngồi, cánh tam giác được trang bị một động cơ AL-31FN cánh quạt phản lực (công xuất tĩnh tối đa 12.500 kgf (123 kN, 27.600 lbf)) do Nga thiết kế. Khung máy bay có cánh đuôi đứng lớn và các cánh mũi (canard) ở gần vị trí buồng lái. Cửa hút khí hình chữ nhật, nằm bên dưới thân. Loại máy bay chiến đấu này có sử dụng vật liệu composite và một số loại kim loại thông thường trong chế tạo. Tính năng được cho là tương đương lớp sau loại F-16, dù khả năng thao diễn có thể ưu việt hơn (có thể ở mức một số loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm lớp đầu của phương Tây). Vòm kính buồng lái kiểu bong bóng nổi cho phép phi công có tầm quan sát tối đa 360 độ.

Hệ thống điện tử: Kiểu radar lắp đặt trên chiếc J-10 hiện vẫn chưa được công bố: những loại có thể được sử dụng là RP-35 của Nga, EL/M-2035 của Israel, Grifo 2000 của Italia và loại JL-10A tự sản xuất trong nước. Một hệ thống ECM (đối phó điện tử) có lẽ cũng được tích hợp, gồm cả các thiết bị làm nhiễu.

Một hệ thống fly-by-wire số bốn kênh tín hiệu giúp phi công điều khiển máy bay. Thông tin sẽ được cung cấp cho phi công thông qua ba màn hình tinh thể lỏng hiển thị đa chức năng trong buồng lái. Thanh điểu khiển HOTAS (Hands On Throttle And Stick) cũng được tích hợp trong thiết kế chiếc J-10.

Vũ khí gắn trên J-10
Hệ thống vũ khí: Hai cánh của chiếc J-10 có 11 mấu cứng có thể mang tới 4.500 kg (9.900 lb) vũ khí, thùng nhiên liệu, và thiết bị ECM. Thiết bị bên trong gồm một pháo 23mm, nằm trong thân. Vũ khí mang ngoài là: tên lửa không đối không hồng ngoại tầm ngắn (PL-8 của Trung Quốc, hay R-73 của Nga), tên lửa tầm trung dẫn đường bằng radar (PL-11 và PL-12 của Trung Quốc, hay R-77 của nga), bom dẫn đường hay không dẫn đường laser, tên lửa chống tàu (YJ-9K Trung Quốc), và các tên lửa chống bức xạ (YJ-9). J-10 còn được trang bị các loại bom như bom dẫn đường laser (LT-2), bom trượt (LS-6) và bom không dẫn đường.

Hiện chiến cơ J-10 được sử dụng chủ yếu trong Không lực của Trung Quốc.

Từ khóa tìm kiếm tới bài viết:

  • chiến đấu cơ hiện đại nhất thế giới
  • 10 may bay chien dau tot nhat the gioi
  • top 10 máy bay hiện đại nhất thế giới
  • sieu phi co chien dau
  • top may bay chien dau hang dau the gioi
  • 10 may bay chien dau manh nhat the gioi
  • top 10 máy bay chiến đấu
  • top 10 may bay chien dau manh nhat the gioi
  • top 10 may bay chien dau
  • top 10 may bay chien dau nhat the gioi

, , , , , , ,

Ý kiến của bạn:

Hay nhất Internet